HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

Gửi bàigửi bởi PeHaru vào ngày Thứ 5 03/05/12 10:31

HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
( Qua chùm thơ THU )
PHẦN 1
**-^^-**


I - Rằm tháng giêng Kỉ Dậu (1909), sau 25 năm cáo thoái triều quan, lui về chốn quê, hòa vào thôn ổ, Nguyễn Khuyến, nghệ sĩ lớn cuối cùng của nền thơ ca cổ điển Việt Nam, khép lại trang đời, hưởng thọ 74 tuổi.

Sáng tác của Nguyễn Khuyến (gồm thơ, văn , câu đối bằng chữ Hán và chữ Nôm) hầu hết được làm sau lúc từ quan (1884), hiện còn khoảng trên 800 bài [1; 19]. Trong đó đại bộ phận là thơ. Đặc biệt có nhiều bài thơ được ông viết bằng chữ Hán rồi tự dịch ra chữ Nôm, cả hai đều rất điêu luyện. Tính cho đến nay, cuốn “Nguyễn Khuyến- tác phẩm” do Nguyễn Văn Huyền sưu tầm , biên dịch, giới thiệu ( Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1984) là cuốn sách giới thiệu nhiều tác phẩm của Nguyễn Khuyến nhất – 432 tác phẩm.

Nhà thơ Xuân Diệu có nhận xét mảng thơ có giá trị nhất của Nguyễn Khuyến là mảng thơ Nôm , trong thơ Nôm, nức danh nhất là ba bài thơ Thu (Thu vịnh , Thu điếu , và Thu ẩm). Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến có thi đề là ba cái thú tiêu khiển thanh tao và cũng thật thanh đạm của một dật sĩ: làm thơ, câu cá và uống rượu . Nhìn một cách chung nhất, nhà thơ đã đóng góp cho văn học dân tộc bức tranh thu tiêu biểu về vùng quê chiêm trũng - làng Yên Đổ, tỉnh Hà Nam. Ba thi phẩm này hầu như được viết khá gần nhau, rất nhất quán trong cách đặt thi đề, trong mạch cảm hứng, hơi thơ; nhất quán về không gian, thời gian và cả bầu sinh quyển. Bộ ba ấy tự mình làm thành một thế giới. Ông đã tạo ra nó bằng cả tâm hồn mình, và ông cũng đã chọn cái thế giới ấy làm nơi neo đậu cho cốt cách của mình. TS Chu Văn Sơn nhận xét:“ Hồn thơ của ông đã chọn cái cõi thu này để kí thác và chốn ấy cũng nhận ông về để rồi biến cái phù du khoảnh khắc nhất thời của thân thế cá nhân thành những giá trị chung muôn đời” [ 17;7].

Từ lâu ba bài thơ Thu đã được đưa vào chương trình giảng dạy của môn Văn bậc trung học. Phân tích chỗ tinh diệu trong cảm nhận và miêu tả thiên nhiên ở ba bài thơ này là một trọng tâm chú ý trong giờ giảng văn của đa số giáo viên phổ thông chúng tôi. Sự chú ý đó rất cần , rất đúng. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nên chú ý đúng mức đến hình tượng cái tôi trữ tình thể hiện qua bộ ba này. Hình tượng đó , như sau đây sẽ luận giải, có tính chất quán xuyến toàn bộ thơ Nguyễn Khuyến.

Văn chương không chỉ là bức tranh đời sống mà còn là bức chân dung tinh thần của chủ thể sáng tạo. Chủ thể không chỉ là người sáng tạo ra những giá trị tinh thần mà còn là đối tượng miêu tả biểu hiện; chủ thể không chỉ được xem như là một yếu tố tạo nên nội dung tác phẩm mà còn được xem như là một phương tiện bộc lộ nội dung của tác phẩm, là một thành tố của thế giới nghệ thuật do tác phẩm tạo ra. Ở những nhà thơ có cá tính sáng tạo độc đáo, dấu ấn của chủ thể càng in đậm trong từng từ, từng hình ảnh, từng dòng thơ, bài thơ,..

Vấn đề cần giới thuyết ở đây là mối quan hệ giữa chủ thể với hình tượng nhân vật trữ tình, là những hình thức biểu hiện của chủ thể với tư cách là hình tượng trung tâm của tác phẩm thơ trữ tình. Để thấy rõ mối quan hệ này, cần thiết phải phân biệt chủ thể và cái tôi, cái tôi của nhà thơ và cái tôi trữ tình trong tác phẩm.

Chủ thể là một phạm trù được xem xét trong mối quan hệ với khách thể, là phạm trù đối lập với khách thể ở tính tích cực, thể hiện ở ý thức, ý chí và khả năng nhận thức, chiếm lĩnh hiện thực khách quan. Cái tôi là yếu tố của chủ thể làm cho chủ thể ý thức được chính mình, là chức năng tự nhận thức của chủ thể.

Cái tôi của nhà thơ có mối quan hệ trực tiếp và thống nhất với cái tôi trữ tình trong thơ. Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác. Những sự kiện, hành động, tâm tình và kí ức trong cuộc đời riêng cũng in đậm nét trong thơ. Cái tôi của nhà thơ có lúc thể hiện trực tiếp qua những cảnh ngộ riêng, trực tiếp giãi bày những nỗi niềm thầm kín. Cái tôi của nhà thơ còn hiện diện qua cách nhìn, cách nghĩ, qua tình cảm thái độ trước thế giới. Tuy nhiên, cái tôi trữ tình trong thơ và cái tôi của nhà thơ không hề đồng nhất. Cái tôi của nhà thơ ngoài đời thuộc phạm trù xã hội học, còn cái tôi trữ tình trong thơ thuộc phạm trù nghệ thuật. Cái tôi trữ tình là cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật hoá và trở thành một yếu tố nghệ thuật phổ quát trong thơ trữ tình, là một thành tố trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
**

II- Ở ba bài thơ thu ( Thu vịnh, Thu điếu và Thu ẩm), qua ba bức tranh thu người đọc có thể nhận ra một con người có cách cảm nhận đặc sắc, tinh tế đối với làng cảnh Việt Nam:

1- Phong cảnh làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến, như nhiều người đã nhận xét , đúng là phong cảnh quê hương nhà thơ, một làng quê vùng chiêm trũng, lặng lẽ, nên thơ- làng Yên Đổ , huyện Bình Lục , tỉnh Hà Nam trong hai thập niên cuối cùng của thế kỉ XIX đầy những biến động dữ dội. Cảnh quê được cảm nhận bằng nhiều điểm nhìn, nhiều góc nhìn, ở nhiều thời điểm khác nhau, trong những trạng thái tâm tư khác nhau nhưng thảy đều thống nhất trong nhãn giới của một con người canh cánh một tình yêu quê hương nồng đượm.

Có cái nhìn toàn cảnh, bao quát một không gian rộng lớn ở nhiều thời điểm khác nhau , trong một trạng thái minh tĩnh tuyệt đối, một tầm đón nhận tinh tế mọi biểu hiện của cảnh thu:

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.

( Thu vịnh )

Có cái nhìn từ một không gian cụ thể, ở một khoảng thời gian cụ thể trong bài Thu điếu. Đó là cái nhìn của ông câu từ chiếc thuyền câu bé tẻo teo, bất động trên mặt ao lặng lẽ vào một chiều thu lạnh lẽo:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng nước theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo


Có cái nhìn chếnh choáng bỡi men tiêu sầu và đó cũng là sự bổ sung một cách nhìn , một tâm thế nhìn để phát hiện ra các khía cạnh khác nhau của bức tranh quê từ một đêm trăng muộn:
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe,
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?

( Thu ẩm)

Viết về làng quê mình bằng chính sự quan sát, trải nghiệm của cả cuộc đời gắn bó với quê hương nhà thơ nhận ra những nét rất đặc trưng của cảnh thu nơi làng quê núm ruột của mình. Đó là:

Một bầu trời cao xanh lồng lộng dù được ngắm nhìn ở thời điểm ban ngày hay ở một đêm trăng:

“ Trời thu xanh ngắt mấy từng cao”
“Tầng mây lơ lửng, trời xanh ngắt”
“ Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”

Màu xanh xuất hiện ba lần như một nỗi ám ảnh trong chùm thơ nhưng hình như mỗi màu xanh trong mỗi cảnh thu đều có những nét riêng của nó. Màu xanh ngắt trong Thu ẩm dường như pha một chút ngạc nhiên , hóm hỉnh, mà đau đớn tự bên trong; màu xanh của Thu điếu là màu xanh phân vân trước cái cao rộng của bầu trời, còn màu xanh trong Thu vịnh là cái nền xanh sâu lắng vừa cao rộng vừa thẳm sâu

Nước thu trong vắt, lãng đãng khói sương vào buổi hừng đông hoặc lúc chiều tà- “Nước biếc trông như tầng khói phủ”. Gió thu nhè nhẹ, hắt hiu. Lá thu không trút ào ạt như mùa thu Trung Quốc trong thơ Đỗ Phủ. Nó nhè nhẹ rời cành buông mình lượn theo làn gió hắt hiu : ‘Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”

Trăng thu sáng trong dịu mát , gợi cảm, sinh động:

“ Song thưa để mặc bóng trăng vào”
“ Làn ao lóng lánh bóng trăng loe”

Đường thôn , lối xóm ngày thu thật yên ắng: “ Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo”.

Ở trung tâm cõi thu của Nguyễn Khuyến là một nếp nhà giản dị : “ năm gian nhà cỏ thấp le te” nhưng luôn mở thông với thiên nhiên, giao hòa với trăng thu quyến rũ: “ Song thưa để mặc bóng trăng vào”. Do vậy , hình ảnh ‘năm gian nhà cỏ” không hề gợi sự tồi tàn , mặc cảm mà là sự thích thảng, một nếp sống thanh bạch của những con người cao khiết.

Cả ba bài thơ đều sử dụng các từ thuần Nôm, thảng hoặc có một vài từ gốc Hán được Việt hoá cao độ ( Một trong những dấu hiệu của mức độ Việt Hoá từ ngữ gốc Hán là ở chỗ chúng có được dùng trong dạng từ đơn âm để đặt câu hay không) mặc dù Cụ là một người tinh thông chữ Hán và làm thơ chữ Hán nhiều hơn là thơ Nôm. Nhờ đó ý thơ tinh xác, cụ thể, cảm tính trong từng từ ngữ miêu tả, là kết quả của một năng lực quan sát tinh tường, một tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên quê kiểng. Nhà thơ Xuân Diệu từng thán phục Cụ khi Cụ sử dụng tinh vi các từ chỉ mức độ hoạt động của lá và của sóng trong hai câu: “ Sóng biếc theo làn hơi gợn tí . Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”.

Đặc biệt nhất là các từ láy được sử dụng rất đắc địa. Hệ thống từ láy Nguyễn Khuyến sử dụng là những từ có tính tượng hình, gợi cảm cao. Bài nào cũng có: Thu vịnh có lơ phơ, hắt hiu; Thu điếu có lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng; Thu ẩm có le te, lập loè, phất phơ, lóng lánh.

Nhịp điệu , giọng thơ của chùm thơ tuy phải tuân thủ luật thơ thất ngôn bát cú cực kì nghiêm ngặt nhưng vẫn hết sức tự nhiên sinh động , không chút gò gẫm. Dòng nối dòng, lời thơ thơ cứ thế trôi chảy tự nhiên, uyển chuyển gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày nhưng vẫn giàu nhạc điệu, chất thơ . Tứ thơ vận động hợp lí đi từ ngoại cảnh đến nội tâm. Nội tâm được biểu hiện qua nhiều nhiều sắc thái , không trùng lắp. Đó là một dấu hiệu chứng tỏ “sự thắng thế của một quan niệm, một phương thức tư duy nghệ thuật bước đầu tìm dược một định hướng đúng, để đi nhanh từ ước lệ, công thức, đến hòa trộn tài tình bút pháp trữ tình với tả thực” .

Cái tôi trữ tình hiện lên qua cảnh Thu là hình tượng một thi gia ẩn dật, một lão nông lặng lẽ chăm chú ngắm nhìn, xúc động bằng con mắt và trái tim của tình yêu xuất phát tự một tấm lòng gắn bó với đất và người nơi chôn nhau cắt rốn suốt trong một quãng đời dài . Đó là cách cảm nhận trực tiếp không bị bó buộc vào ước lệ, những mô tip có sẵn trong thơ cổ Việt Nam hoặc Trung Hoa.
PeHaru
Hình đại diện của thành viên
PeHaru
 
 
Bài viết: 69
Ngày tham gia: Thứ 2 23/04/12 14:09
Đến từ: TP.HCM

Re: HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

Gửi bàigửi bởi PeHaru vào ngày Thứ 5 03/05/12 10:40

HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
( Qua chùm thơ THU )
PHẦN 2
**-^^-**


2- Ở ba bài thơ thu, ngoài sự độc đáo tinh tế trong cảm nhận và truyền thần cảnh thu, còn thể hiện sự phong phú trong chất giọng , trong cách bộc lộ, kí ngụ tình cảm, đã dựng lên một cách rõ nét cái tôi trữ tình - một nho gia –thi sĩ với nhiều sắc điệu cung bậc tình cảm luôn cuồn cuộn thiết tha với vận mệnh nước nhà:

2.1- Hãy trở lại với bài Thu vịnh, vốn được coi là bài phác hoạ khái quát những đặc điểm nổi bật của mùa thu. Bức phác hoạ này rất nhiều nét quen: Trời thu xanh ngắt , cần trúc lơ phơ , nước biếc , song thưa, bóng trăng, hoa… nhưng được điểm vào đúng chỗ một nét lạ “Một tiếng trên không ngỗng nước nào?” Cái lạ không nằm ở chỗ tiếng ngỗng mà ở chỗ thắc mắc của nhà thơ .

Ở vào vị trí đối ngẫu, câu : “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái” là câu nói về hoa mà không cần gọi thẳng tên hoa, chỉ gọi là hoa năm ngoái, do đó câu thơ không phải tả cảnh. Và vì không phải tả cảnh nên hoa không có màu sắc, dáng điệu. Hoa ở đây chỉ làm chứng cho sự chuyển động tuần hoàn của thời gian nên hoa chỉ có sắc màu của năm tháng.

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái” , bằng cách gọi tên sự vật có phần đặc biệt này nhà thơ đã xóa nhòa khoảng cách thời gian phải chăng là một biểu hiện của tấc lòng “ tích cổ”, một kiểu “ sống với thời gian đã mất” mà thơ cổ Trung Quốc đã từng để lại những câu thơ tuyệt vời tài hoa, in dấu ấn đậm nét trong các thế hệ thi nhân Việt Nam:

- “Đình thụ bất tri nhân khứ tận

Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa”

( Dịch thơ: Cây sân chẳng biết người đi hết

Xuân về vẫn nở những hoa xưa )

( Sầm Tham – Sơn phòng xuân sự)

-“ Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong”

( Nguyễn Du đã chuyển dịch một cách thiên tài bằng : Trước sau nào thấy bóng người. Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông)
( Thôi Hộ- Đề đô thành nam trang)


Vậy cớ gì ở câu thơ thứ 6 lòng thi sĩ lại cộm lên nỗi băn khoăn “ Một tiếng trên không ngỗng nước nào”?

Xóa nhòa khía cạnh thời gian nhưng nhà thơ Quế Sơn lại phân biệt rạch ròi khía cạnh không gian, phải chăng vì đang đau đáu một nỗi “thương kim” như ý thơ Nguyễn Đình Chiểu “ Bờ cõi xưa đà chia đất khác. Nắng sương nay há đội trời chung !”. Trong một bài thơ chữ Hán nhà thơ cũng viết “ Chim én quay về quên lối cũ/ Đàn cò tối đậu lẫn sương mờ/ Năm trăm năm cũ nơi văn vật/ Còn sót hòn non một nắm trơ ( Hoàn Kiếm hồ-Lời dịch). Phải chăng nhà thơ muốn nói nước non đã mất chủ quyền, không chỉ con người mất quê hương mà loài chim chóc cũng không còn chốn đậu?

Thực ra, đối với tín hiệu nghệ thuật “ ngỗng” này còn có cách “giải mã” khác. Theo GS Trần Đình Sử, nhà thơ Quách Tấn đã cho rằng đó là một cách dùng từ cọc cạch, phi thơ ( trong thế đối sánh với Hồng , nhạn). Nguyễn Khuyến chọn tiếng “ngỗng” cọc cạch phi thơ ấy hẳn là có lí do riêng của mình. Xưa nay không ai hỏi “ ngỗng nước nào” vì nó là một loại chim di trú , một loại “ thời điểu”. Phải có một ngữ cảnh đặc biệt nào đó mới nảy ra câu hỏi đặc biệt này. “Một danh từ ngỗng phi thơ lạc hệ thống và một câu hỏi phi lô gic nhưng chính vì thế mà nó gợi lên cái ý về một âm thanh xa lạ phá vỡ sự yên tĩnh của mùa thu phương Nam. “ Ngỗng nước nào” là câu hỏi phủ nhận kiến thức thông thường để ám chỉ giống chim nước khác xâm chiếm bầu trời ám chỉ sự hiện diện của thực dân Pháp. Thì ra khung cảnh yên tĩnh trên kia chỉ là ảo giác”.

Nhưng dù hiểu theo cách nào thì cũng dựa trên mẫu số chung là ngữ cảnh , mà ở đây ngữ cảnh lớn nhất là cảm thức thường trực của tác giả về nỗi đau mất nước. Điều này phù hợp với quy luật: Ý nghĩa của văn bản nghệ thuật là do ngữ cảnh hạn định. Ngữ cảnh bao gồm các quy tắc ngôn ngữ của tác phẩm, bối cảnh văn hóa của người đọc và tác giả, cùng mọi thứ liên quan đến tác giả , tác phẩm và người đọc. Ngôn từ như vậy là ngôn từ đã mang kinh nghiệm , thể nghiệm của chủ thể chứ không phải chỉ thông báo một cái gì ngoài nó. Ngôn từ được sử dụng như vậy thì đâu chỉ là một “ tín hiệu”, mà đã là một hành vi, nói một điều gì đó tức là “ làm” một việc gì đó.

Vậy ra một tiếng ngỗng đơn độc giữa bầu không “xanh ngắt mấy tầng cao” kia đã dội những sóng âm thê thiết rót đúng vào một nỗi niềm thầm kín chất chứa đã bao ngày, như một giọt nước làm tràn cốc nước khiến tác giả có được khoảnh khắc “đốn ngộ” và bài thơ kết thúc bằng một lời tự tỉnh nghiêm túc về nhân cách, khí tiết cần có của một nhà nho chân chính đã từng nguyện theo gương các bậc cao hiền ngày xưa:

“ Nhân hứng cũng vừa toan cất bút

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” .


Thẹn vì nghĩ mình kém tài thơ so với Đào Uyên Minh( 365-427) chăng? Không chắc! Vì các nhà nho không ai dám đem cái tài của mình để so đọ hơn thua với tiền nhân. Cái thẹn ở đây rõ ràng là cái thẹn khi thấy nhân cách khí tiết của mình không noi theo được bậc tiền bối đầy tiết tháo, người đã từng dõng dạc tuyên bố không vì năm đấu gạo mà khom lưng uốn gối. Quả thực trong thơ, Tam Nguyên Yên Đổ nhiều lần nhắc đến Đào Tiềm:

- Bành Trạch cầm xoang ngâm trước ghế

( Trở về vưỡn cũ)


- Nguyện phóng Uyên Minh tam kính hoàn

( Xin tha cho Uyên Minh về với ba luống cúc)

(Sơ chí Đà Tấn phụng tống đương sự chư quân)

- Lão hưu mạc hận thân bằng thiểu

Bành Trach tương tri chỉ tố cầm

( Tuổi già về nghỉ chớ phàn nàn về chỗ ít bè bạn

Ông Bành Trạch xưa chỉ thân với một cây đàn không dây)

( Xuân nhật)


Ông lại có cả một bài thơ ghi lại cảm xúc khi đọc “Đào hoa nguyên kí” của Đào Tiềm:

Nguồn Đào suối hết lại non khơi,

Cửa tới cung tiên đã mở rồi,

Chốn ấy bận nhàn không tính toán,

Năm trăm thiên hạ bặt tăm hơi.

Trầm ngâm say lả bên đèn tỏ,

Bảng lảng quay về bóng hạc côi.

Đáng giận Đường- Ngu người chẳng thấy

Lại qua chỉ thấy Tấn – Tần thôi.

(Độc Đào nguyên kí hữu cảm- bản dịch thơ của Nguyễn Văn Huyền)


Viết về Đào Bành Trạch, Nguyễn Khuyến không phải nhằm độc tôn cái nhàn mà chủ yếu là cảm khái thời thế. Thời Đường – Ngu ( Đế Nghiêu- Đế Thuấn) vốn được coi là thời thái bình an lạc, theo sách vở nhà nho đó là thời ‘ tối ngủ không phải đóng cửa; của rơi ngoài đường không ai nhặt”. Than ôi! Thời ấy nay còn đâu. Cái còn lại bây giờ là thời Tần – Tấn với chiến tranh tranh quyền đoạt lợi liên miên đến nỗi “mở cửa nhìn hút tầm mắt cũng chỉ thấy xương trắng phơi đầy đồng” (ý thơ Tào Mạnh Đức). Thời ấy khác nào thời tác giả đang sống, quân thù đã:

‘ Khoét rỗng ruột gan trời đất cả

Phá tung phên giậu hạ di rồi”

( Hoài cổ)


Ngay tại làng quê của tác giả, quan Tây cũng đã thọc bàn tay lông lá vào cuộc sống nông thôn rồi:

“ Mấy năm cày cấy vẫn chân thua

Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa

Phần thuế quan Tây , phần trả nợ

Nửa công đứa ở , nửa thuê bò”

( Nhà nông than thở)


Với một tần số xuất hiện khá cao như vậy, chúng ta dễ thấy hành trạng và thơ văn Đào Tiềm có sức hấp dẫn với Nguyễn khuyến biết bao!

Đến đây hẳn hậu thế hẳn dễ cảm thông với tâm sự ngổn ngang trăm mối của cụ về lẽ xuất- xử ! Cáo lão từ quan sau 13 năm hoạn lộ không phải cụ Tam Nguyên không có nhiều dằn vặt , suy tính, thậm chí đã dằn vặt đến cuối đời. vì “ ở bước ngoặt đó, Nguyễn Khuyến không chỉ đơn thuần cởi chiếc áo thụng xanh ra, mà còn cởi theo được nhiều ràng buộc khác để từng bước nhận thức lại giá trị chân chính của đời sống, xác định lại ý nghĩa sự sống trên một bình diện mới, cũng chính là tìm thấy lại bản lĩnh và nhân cách của mình” [13; 61]. Trong bài Di chúc, Cụ đã căn dặn con cháu của mình :

Đề vào mấy chữ trên bia

Rằng : “ Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu!”

Cụ dằn vặt thế là phải, vì ngay từ đầu, Cụ không có được thái độ dứt khoát, cụ còn lưỡng lự:

“ Việc nhà hay ốm đành hưu vậy

Ngày một lần ăn chửa nỗi nào

Giúp nước bạn bè còn lại đó

Về nhà con cháu, chắc hiền đâu”

( Cảm tác – bản dịch của Đỗ Ngọc Toại)


Tất nhiên, cuối cùng rồi ông “quan nhà Nguyễn” cũng cáo về đúng như sau này Cụ bộc bạch trong bài KHÓC DƯƠNG KHUÊ -Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn - Phận đẩu thăng chẳng dám tham trời.

Phải chăng chính sự dùng dằng , lưỡng lự ấy cộng với hiện tình đất nước bây giờ đã khác xa thời Đào Tiềm – Đào Tiềm còn có cả một Đào Nguyên để “ lánh đục tìm trong” còn Nguyễn Khuyến thì không ẩn vào đâu được - khiến Cụ Tam nguyên tự thấy thẹn khi soi mình vào tấm gương sáng Đào Uyên Minh ! Cái thẹn như thế có ý nghĩa như một tia phản quang từ tấm gương nhân cách sáng trong đáng khâm phục của cụ.

Thơ Nguyễn Khuyến nhiều lần dùng chữ “ thẹn”, cả trong thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm:

Sách vở ích gì cho buổi ấy

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

( Ngày xuân dặn các con)


Tàm quí cầm thư thù mạnh lãng

Thử tâm năng bất phụ trùng qua ?

Dịch nghĩa: Nỗi niềm bất đắc chí những hổ thẹn với sách đèn

Tấc lòng này sao có thể không qua lại nữa?

( Thanh đạo trung)


Mạc triển bán trù mưu quốc thiểu

Do hiềm tam đẩu vị thân đa

Dịch nghĩa: Chẳng mưu tính được chút gì ích lợi cho đất nước

Vẫn hiềm phải nhận ba đấu gạo kiếm nuôi nhà

( Nhàn vịnh – kì tứ)


Vô tài cự khả khinh đầu bút

Hữu dục an năng bất sỉ bào

Dịch nghĩa: Bất tài há dám xem nhẹ việc gác bút theo việc quân

Còn chút ham muốn tránh sao khỏi thẹn với chiếc áo bào

( Bắc quy , lưu giản tại kinh chư đồng chí)


Ơn vua chưa chút báo đền

Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn trời

( Di chúc)


Như vậy cái tôi trữ tình hiện lên qua bài Thu vịnh là hình tượng một nhà nho nặng tình đất nước, một ẩn sĩ cao khiết nguyện noi gương sáng của tiền nhân nhưng đồng thời cũng ý thức sâu sắc về sự bất lực của hệ tư tưởng, của giai tầng trí thức Nho học nên thân quy ẩn mà tâm không nhàn, luôn dằn vặt, tự vấn , tự phản tỉnh nghiêm khắc và dám nhìn thẳng vào sự thật của lòng mình không biện bạch , che giấu quanh co.

2. 2. - Bài Thu điếu tình điệu có khác. Nguyễn Khuyến đi câu nhưng dường như không vụ ở việc câu. Bài thơ chỉ hiện rõ hình ảnh ông câu đang mê mẩn thưởng thu, khi ngắm gần khi trông xa, dường như trong khoảnh khắc đã bắt gặp cái hồn thu muôn thưở - một sự im ắng mênh mang.

Ông câu ngồi trên chiếc thuyền câu “ tựa gối ôm cần” mải nhìn mặt nước và nhận thấy “sóng biếc theo làn hơi gợn tí”. Bỗng chiếc lá vàng vèo bay trước mắt kéo ông trở về thực tại, rồi ông ngước mắt nhìn lên “ Chòm mây lơ lửng, trời xanh ngắt”, rồi lại nhìn chung quanh “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”,…để rồi khi tiếng cá “ đớp động dưới chân bèo” khẽ khàng kia ông mới biết mình “ Tựa gối ôm cần lâu chẳng được” .

Bài thơ không kết theo lối cảm khái trực tiếp như Thu vịnh mà kết lại bằng một hàm ngôn. Tôi dường như nghe thấy tiếng thở dài bất lực lẫn một niềm tin mỏng manh của ông câu! Ở cái vô ngôn trên phương diện câu chữ, sao nghe cứ nhói lên sự chua xót- bất lực của một tâm trạng .

Thật vậy cả bảy câu đầu bài thơ, cảnh nào, sự nào cũng được thuật, tả rất tỉ mỉ, cụ thể bằng hàng loại tính từ , trạng từ rất xác định, rất thực thà: Ao thu thì lạnh lẽo, nước thì trong veo, thuyền câu bé tẻo teo, sóng thì biếc, hơi gợn tí, lá thì vàng, sẽ đưa vèo, tầng mây thì lơ lửng, trời thì xanh ngắt, ngõ trúc thì quanh co , khách thì vắng teo, tựa gối , ôm cần thì lâu chẳng được. Nhưng đến câu kết “ cá đâu đớp động” thì lại mơ hồ như có như không. Kiểu kết như vậy không thể không khiến người đọc phải suy ngẫm!

Khương Tử Nha, theo truyền thuyết Trung Hoa, bao năm miệt mài câu bên dòng sông Vị bằng lưỡi câu không uốn móc, câu là để lắng nghe nghiền ngẫm thế sự nhân tình để rồi khi đã bước qua tuổi “cổ lai hy” mới gặp chân chúa, làm nên sự nghiệp “ phò Chu phạt Trụ” lẫy lừng khiến cho vạn đời sau ngợi ca, ngưỡng mộ . Giờ đây Nguyễn Khuyến nghiền ngẫm điều gì?

Quả thực, Nguyễn Khuyến khó mà có được cái không gian ẩn cư lí tưởng như cổ nhân. Nước Việt Nam thời Nguyễn Khuyến đâu giống Trung Hoa thời trước. Muốn có được cái nhàn, người ẩn cư phải cần đến sự yên tĩnh và yên tâm nhưng dần dần cụ Hoàng Và thấy mình thiếu thốn cả hai.

Âm vang của thời cuộc và cả thế cuộc cho dù nhà thơ có “đắp tai , ngoảnh mặt làm ngơ” ( Ông phỗng đá) cũng đâu có thể dễ dàng trở thành “ Anh giả điếc”. Tiếng vọng thời cuộc thì buồn nhiều hơn vui. Phong trào Cần Vương cũng chỉ sôi nổi trong một thời gian ngắn. Trong số văn thân yêu nước dũng cảm cầm gươm chống giặc thì lần lượt người ngã bệnh rồi qua đời giữa chiến khu lam chướng, người bị giết, người khác phải lưu vong….Tiếng vọng thế cuộc thì nhiều chua chát. Trong giới khoa bảng, tiêu biểu cho Đạo học và cũng là môi trường mà nhà thơ có nhiều bè bạn, không hiếm người ở lại cộng tác với giặc, nghênh ngang võng lọng, đắm đuối trong vòng tửu sắc, trong những “giấc mơ con dè nát cuộc đời con”. Lại còn lớp người hãnh tiến, con đẻ của xã hội thực dân – phong kiến, đó đây mới ló dạng nhưng cũng chẳng kém cạnh gì trong những trò ranh rãnh!

Còn niềm tin mong manh của ông câu là gì? Phải chăng tín hiệu tiếng cá “đớp động” dù mong manh như cảm giác thoáng qua ( “cá đâu đớp động” là một cách nói rất yếu tính thông báo nhưng giàu tính chất tình thái, cũng như sau này Huy Cận viết ‘ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”) nhưng cũng “ đem lại cho người đọc một nhận thức , một cảm giác về sự vận động bên trong, âm thầm, bền bỉ liên tục và không kém phần mạnh mẽ của sự vật, của cuộc sống ở làng quê Việt Nam. Đó là sự sống tiềm tàng, dẻo dai làm nên bản sắc của thiên nhiên, của con người Việt Nam từ xưa đến nay” [16; trang 251] ? Nhà thơ không trực tiếp bộc lộ cảm xúc suy nghĩ, chỉ gợi mở bằng bản thân sự việc, sự vật. Sự bất lực lẫn niềm tin mỏng manh ở hoàn cảnh đó thật khó nói cho tỏ tường. Nguyễn Khuyến rất nhạy cảm trong phát hiện và miêu tả cái mầm sống mong manh loại này:
“ Một khóm thủy tiên dăm bảy cụm

Xanh xanh như sắp thập thò hoa”

( Nguyên đán ngẫu vịnh)


Không hiểu sao tôi cứ day dứt hoài khi liên hệ giữa cái kết lặng thầm ở Thu điếu với những câu thơ được kết dệt toàn bằng những hư từ ở bài thơ Khóc Dương Khuê khi nói về những bước ngoặt quan trọng nhất của đời bạn, đời mình:
“ _Bác Dương thôi đã thôi rồi

_ Bác già , tôi cũng già rồi

Biết thôi thôi thế thì thôi mới là”.


Quả thật rất khó nói cho tách bạch về cái ngã ba đời này ở Nguyễn Khuyến và Dương Khuê. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê là bạn đồng khoa, đã từng chung nhau nhiều kỉ niệm đẹp. Sau Hòa ước Hac măng (1883), Nguyễn Khuyến “cấp lưu dũng thoái” còn Dương Khuê vẫn tiếp tục ở lại chốn quan trường. Phải là những người trong cuộc, tri âm mới có thể hiểu hết những điều khó nói chứa đựng trong các hư từ ấy. Các hư từ này tạo thành thế đối lập với các từ ngữ rất tường minh khi nói về những kỉ niệm khác của hai người trong bài thơ:

- “Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Vẫn sớm hôm tôi với bác cùng nhau”

(…) Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,

Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo”

(…) Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,

Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.

Có khi bàn soạn câu văn,

Biết bao đông bích điển phần trước sau”

- “ Trước ba năm gặp bác một lần

Cầm tay hỏi hết xa gần,

Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can”

(…)


Để hiểu chỗ tế nhị này , thiết tưởng ta cũng nên đọc lại một bài thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến gửi Dương Khuê trước đó:

Sất bạch ngã tri quân vị thân

Đẩu mệ quân tri ngã chi bần

Tầm thường sở chí tại ôn bão

Mà cảm dao dao đàm cố nhân

Dịch nghĩa: Tôi biết bác vì cha mẹ phải làm quan kiếm tấm lụa

Bác biết tôi nghèo phải làm quan kiếm đấu gạo

Cái chí chỉ mong ước cho mình đủ no ấm

Sao dám cao giọng bàn chuyện người xưa

( Kí phỏng Dương thượng thư)


Khi đã chấp nhận đời sống của một hưu quan trong thời tao loạn, cuộc sống trở nên kham khổ chẳng khác một lão nông, tác giả đã viết bài thơ dài Nhân tặng nhục . Sau khi bày tỏ thật ngọn ngành cảm giác hổ thẹn của mình khi được người ta tặng miếng thịt không chắc có nguồn gốc sạch sẽ gì, nhưng không nhận cũng không phải là dễ dàng chi, tác giả cũng hạ bút viết hai câu thơ kết đầy tính hàm ngôn:
“ Hốt hốt đàm tương vương

Thanh phong động cô trúc”

( dịch nghĩa: Nói chuyện với nhau một cách thảng thốt quên cả nhau

Gió nhẹ làm lay động cây trúc lẻ loi”


Nguyễn Khuyến khác nào cây trúc bị gió chờn vờn cho lao đao. Bóng dáng cây trúc lẻ loi ẩn mọi nơi trong thế giới thi ca Nguyễn Khuyến. Ẩn cả trong chùm thơ Thu. “Thật khó hình dung nổi phong thái thanh cao của nhà thơ vườn Bùi nếu tách ông ra khỏi cái miền không gian thôn dã của chùm thơ Thu”.

Mà làm sao có thể nói cho tách bạch được khi con người mang lí tưởng hành đạo “trí quân trạch dân” dang dở lại là tiền duyên làm xuất hiện con người xã hội trong ông đang chòng chành giữa giữa dòng trong và dòng đục. Ông muốn tiếp tục sống có trách nhiệm với đời, muốn vươn lên và vượt qua những giới hạn của bản thân nhưng kẻ thù nào để ông yên ổn. Ông đã từng ứng xử thật cao thượng trước những tình huống khác nhau nhưng ông lại phủ định cả con đường mà ông đã lựa chọn vì ông không thể chịu đựng cái nhàn và cả sự vô tâm trước thời thế. Đó là bi kịch không thể quên đời của một tư cách công dân. Không quên đời cũng là không thể quên mình, quên cái tôi, cái bản ngã chân thật nhất của nhà thơ lớn Nguyễn Khuyến.

2.3 - Sang bài Thu ẩm , ta bắt gặp một nét “ngông” của nhà nho - tài tử
PeHaru
Hình đại diện của thành viên
PeHaru
 
 
Bài viết: 69
Ngày tham gia: Thứ 2 23/04/12 14:09
Đến từ: TP.HCM

Re: HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

Gửi bàigửi bởi PeHaru vào ngày Thứ 5 03/05/12 10:53

HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
( Qua chùm thơ THU )
PHẦN 3
**-^^-**


2.3 - Sang bài Thu ẩm , ta bắt gặp một nét “ngông” của nhà nho - tài tử (chữ dùng của cố PGS Trần Đình Hượu).

Để thể hiện nó , nhà thơ đã sử dụng một tâm thế ngắm nhìn, một trường nhìn khác . Đó là cái nhìn chuếnh choáng hơi men từ ngôi nhà cỏ vắng vẻ trong một đêm trăng muộn. Nét ngông ấy có thể thấy ở cách dựng cảnh - cảnh xao động qua tương quan sáng- tối; qua việc sử dụng khuôn vần ( - e ; - oe) giàu tính biểu tượng ngữ âm. Cảnh vật cứ thế mà chập chờn lay động với sự mở dần của âm thanh hướng người đọc đi tới một quang cảnh ngày thu đã đi vào chạng vạng, cái tối, cái sáng như cứ nhòe vào nhau, nhưng bóng tối càng tràn lấn thì ánh sáng trăng thu lại trở nên huyền ảo lung linh.

Tuy nhiên ngông nhất là ở cặp luận:
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.”


Hai câu thơ không còn là câu miêu tả. Ngữ dụng học cho hay trong một phát ngôn luôn có phần nghĩa thông tin về sự vật và hiện tượng và phần nghĩa tình thái – thể hiện cái phần chủ quan của chủ thể phát ngôn. Trong phát ngôn văn chương , phần nghĩa tình thái là hết sức quan trọng.

Nguyễn Khuyến đem “da trời” đối với “mắt lão”. Thế ra “trời” cũng có “da”, cũng bị nhuộm đến mức “ xanh ngắt” ư? Cái màu xanh ngắt ấy quả thực day dứt. Nó không hẳn là màu sắc tự nhiên của da trời. Nó, với ba lần lặp lại- trong cả chùm - bằng những sắc thái ngữ điệu khác nhau đã trở thành yếu tố bền vững trong kết cấu hình tượng Thu. Và người đọc nhận ra được điều gì qua tín hiệu thẩm mĩ nổi bật này trong cả chùm thơ để thấy con người thi nhân đã hóa thân vào đấy?

Mặt khác, một yếu tố thi pháp nữa- cách đối ngẫu- cũng rất cần chú ý. Nguyễn Khuyến đem ‘da trời” đối với “mắt lão”. Vậy thì hoá ra “trời” cũng bằng vai phải lứa với “ lão” đó sao! “ Mắt lão” là mắt bệnh nên đã được vua cho cáo lão hồi hương !. Da trời “xanh ngắt” chẳng lẽ vì do bị “ai nhuộm” hay sao? Mà ai lại cả gan nhuộm da trời?!

Một lần khác , trong thơ Nôm, Nguyễn Khuyến cũng khách thể hóa trời theo đường hướng này:
Chót vót trên này có một tao
Nào tao có muốn nói đâu nào
Da tao xanh ngắt pha đen trắng
Chỉ tại dì Oa vá váy vào
( Trời nói)

Sắc điệu trào lộng cả trời ấy rất đáng lưu ý . Đó thật sự là một tín hiệu nghệ thuật . “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, “Chòm mây lơ lửng trời xanh ngắt” là cái nhìn ngưỡng vọng, là cái nhìn hướng lên cái bao trùm, cao cả, cái “ thiên hạ giai hạ chi”. Còn khi nói “ Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” hoặc “ Da tao xanh ngắt pha đen trắng” thì ông trời đã hoàn toàn bị “ ngoại hóa” , chẳng còn gì bí ẩn, thiêng liêng, thậm chí là vô tích sự. Cùng thời với Nguyễn Khuyến một nhà nho – tài tử khác – Tú Xương- sẽ tiếp bước Nguyễn Khuyến đem trời ra đùa bỡn :“ Lúc túng toan lên bán cả trời”.

Giai thoại văn học kể lại: Cụ Tam nguyên rất chặt chẽ trong phép đối nên không ưa cách “đem nho đối xỏ” của Chu Mạnh Trinh (1862-1905) trong cuộc thi vịnh Truyện Kiều tại Hưng Yên năm 1905, mặc dù cụ Tam nguyên Yên Đổ cũng chấm cho Nghè Chu giải nhất. Lại nữa, nếu nói là nghiêm túc cớ sao nhà thơ lại vặn hỏi nguyên nhân của một sự việc rất “tự nhiên nhi nhiên” là da trời có màu xanh ngắt để rồi vận luôn vào mình “ Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe”. Thì ra chẳng ai nhuộm cả, chẳng ai vầy cả mà da trời vẫn có màu xanh ngắt, mắt lão cũng có màu đỏ hoe. Nói vậy tức là không mà hoá có để rồi hai câu kết nói cái có mà lại thành không:
“ Rượu tiếng rằng hay , hay chả mấy;
Độ dăm ba chén đã say nhè.”


Nhà thơ tự nhận mình được tiếng ‘ hay rượu”. Hay rượu có thể mang hai nghĩa. Hay rượu là thường uống rượu, mà cũng có nghĩa là uống được nhiều rượu. Thật tình, thơ Nguyễn Khuyến giật giải quán quân về số lần nhắc đến rượu. Trong số 432 tác phẩm được giới thiệu trong Nguyễn Khuyến tác phẩm đã có đến 100 bài nói về rượu [13,trang 279] Một vài con số thống kê – so sánh sẽ cho chúng ta thấy rõ : Cao Bá Quát , người tự coi mình là “ngôi sao rượu” cũng chỉ có 22 bài / 156 bài ( theo Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, NXB Văn học, H, 1976). Nguyễn Công Trứ, người cho rằng “ làng say mới rộng lớn còn nhân gian là nhỏ hẹp” cũng chỉ có 17 / 60 bài ( theo Thơ văn Nguyễn Công Trứ, NXB Văn hóa, H, 1958). Tú Xương – thi sĩ cùng thời với ông cũng chỉ có 6/ 151 bài ( theo Thơ văn Trần Tế Xương, NXB Văn học; H, 1970) Thi sĩ- tửu đồ Tản Đà cũng chỉ có 22/424 bài( theo Thơ Tản Đà, NXB Văn học, H, 1982) . Nhưng nhà thơ Xuân Diệu đã tinh tường khi lưu ý người đọc : bức chân dung Nguyễn Khuyến còn truyền lại trên tay chỉ nâng một chén rượu hạt mít!

Khi quyết định cáo thoái triều quan , ông tự nhủ “ Từ đây ngất ngưởng ngồi nâng chén” ( Cảm tác- Đỗ Ngọc Toại dịch). Vẽ chân dung mình ông cũng viết “ Mở miệng nói ra gàn bát sách. Mềm môi chén mãi tít cung thang” ( Tự trào) , hoặc “Lúc hứng uống thêm dăm chén rượu . Khi buồn ngâm láo một câu thơ”.

Hầu như ngoại trừ bài “ Khóc Dương Khuê”- đoạn thơ kể về tuổi tráng niên tươi đẹp, phong lưu với bạn đồng khoa, đồng điệu- Nguyễn Khuyến khi nói về rượu và chuyện uống rượu của mình đều nói bằng một giọng trào lộng. Ngay mồng một tết, nhà thơ đã viết:

“ Nghĩ ta ta cũng sướng ra mà!
Mừng thấy con ta dựng được nhà
Năm mới lệ thường lên tuổi một
Cỗ phe ngôi đã trốc bàn ba
Rượu ngon đến bữa nghiêng bầu dốc
Chữ “ dại” đầu năm xổ túi ra
( Nguyên đán ngẫu vịnh)

“ Đời trước thánh hiền đều vắng vẻ
Có người say rượu tiếng còn nay
Cho nên say; say khướt cả ngày
Say mà chẳng biết rằng say ngã đùng
( Uống rượu ở vườn Bùi)

Suy bệnh diệc vô hưu tức nhật
Cần lao chỉ tại túy miên trung

Dịch nghĩa: Ốm yếu mà cũng không có ngày nghỉ ngơi
Chỉ siêng có việc uống say và ngủ kĩ”
(Tự thán 1)

Mạc quái bằng song liên nhật túy
Ngã vi bất túy thục vi tinh

Dịch thơ: Đừng trách bên song say khướt mãi
Không say thì tỉnh với ai mà


Một sự thực nữa cũng rất đáng được lưu ý: Tư thế uống rượu của nhà thơ hầu như lúc nào cũng là “ độc chước”;“ độc tọa”, “ độc túy”,’ độc tỉnh”, “ độc hữu dư”, “ độc tự liên”, “ tửu hứng cô”….Chỉ duy nhất có một lần cuộc rượu được mời mọc một cách xôm tụ “ chén chú, chén anh, chén tôi , chén bác” thì người được mời mọc , chèo kéo lại là “ Ông phỗng đá” !?! Trạng thái cô đơn của nhà thơ Quế Sơn khiến ta bất giác nhớ lại mấy vần thơ bất hủ của trích tiên Lý Bạch “ Cử bôi khán minh nguyệt/ Đối ảnh thành tam nhân”

“ Rượu tiếng rằng hay , hay chả mấy, Độ dăm ba chén đã say nhè.” quả là một cách nói bông: “ Có tiếng mà không có miếng”, có danh mà không có thực. Vậy là danh thực bất như rồi! Có thể nói, tác giả đã đưa vào “ Thu ẩm” chất dí dỏm, trào lộng, uy- mua nhẹ nhàng nhưng đậm nét. Nhẹ nhàng hơn bất cứ bài thơ mang cảm hứng tự trào , tự thuật nào khác của Cụ . Và đây là chính là một tình điệu nữa để ta nhận ra gương mặt tinh thần của tác giả chùm thơ Thu: Tinh thần tự phê phán , tự cười mình , bông đùa mình.

Tháng ngày thấm thoắt tựa chim bay
Ông gẫm mình ông nghĩ cũng hay
Mái tóc chòm xanh, chòm lốm đốm
Hàm răng chiếc rụng , chiếc lung lay
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say
Còn một nỗi này thêm chán ngắt
Đi đâu cũng giở cối cùng chày
( Than già)

(…) Cờ đương dở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách.
Mềm môi chén mãi tít cung thang
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh , cũng bảng vàng
( Tự trào)


Nhà thơ tự mỉa mai, chế giễu cái già nua , vô tích sự của bản thân mình sao lại khiến tấm lòng người đọc xót xa đến vậy. Không hẳn vì nhà thơ chua chát vì thời gian cướp mất tuổi xuân, tuổi già bệnh tật ùa đến mà chủ yếu có lẽ là vì thời gian trôi qua không bao giờ trở lại đã kéo theo cả những hoài bão ước mơ tuổi trẻ chưa thực hiện được để đến nỗi cuối đời ông vẫn còn dằn vặt “ Ơn vua chưa chút báo đền. Cúi trông hổ đất , ngửng lên thẹn trời ( Di chúc).

Do đó , đọc thơ Nguyễn Khuyến chúng ta không chỉ bắt gặp những hình tượng thơ mà cảm hướng chủ đạo là hướng về cái đẹp, cái cao cả, cái bi mà còn có cả cái hài. Ở mảng thơ này nhà thơ đã khách thể hóa mình để biến mình thành cái đáng cười và nhà nhà nho ẩn dật- nhà thơ trở thành chủ thể cười. Cái hài do vậy là một kiểu nhận thức-thẩm mĩ, bổ sung cho kiểu nhận thức-thẩm mĩ của Nguyễn Khuyến ở hai bài Thu vịnh và Thu điếu. Nhà thơ đứng bên trên những hạn chế của bản thân mình mà lẩy từng nét ra để cười cợt. Nhà nho xưa tự lí tưởng hóa mình, tự vận với các bậc danh sĩ quá khứ, Nguyễn Khuyến bước sang giai đoạn tự trào , tự phủ nhận

Tiếng cười phê phán phủ định trong thơ tự trào Nguyễn Khuyến chủ yếu cất lên từ chặng cuối con đường hoạn lộ, nhất là sau khi ông cáo lão về Yên Đổ. Nguyễn Khuyến tự họa chân dung mình bằng những nét rất xa lạ với chính bản thân tác giả. Cái xa lạ đó chính là biểu hiện của sự tha hóa của con người trước hoàn cảnh mới, sự khuất phục của con người trước những điều kiện sống mới, mà trực tiếp ở đây là con người tác giả, một hình tượng độc đáo, đặc sắc mang đậm tính bi kịch. Điều độc đáo là cái hài ấy xuất phát từ trong lòng đối tượng bị phê phán, từ chính Tam nguyên Nguyễn Khuyến. Vì vậy, sự phủ định mang tính chất tự phủ định và Nguyễn Khuyến tự trào, giễu cợt mình cũng chính là trào phúng cả một tầng lớp đại diện cho một xã hội đã tàn lụi , mất hết vai trò lịch sử. Nhưng bên cạnh tiếng nói tự phủ định ấy, có một tiếng nói khác , tiếng nói tự phản tỉnh, hay nói như Bakhtin là một lời nói nhại lại, là một phản ngôn từ để khẳng định tiếng nói của chính nhà thơ, luôn hướng tới cái tốt đẹp, cái cao cả, cái ý thức trách nhiệm của bản thân ông, của tầng lớp trí thức như ông, cũng như của bất kì một người Việt Nam chân chính nào trước vận nước lâm nguy, và trước yêu cầu mới của lịch sử. Chính từ xuất phát từ nỗi lòng , từ chính tâm trạng của mình nên bài tự trào nào của Nguyễn Khuyến cũng máu thịt, cũng mang điệu hồn ông. Điều đó có khác với Tú Xương: Nỗi buồn của Tú Xương là nỗi buồn cay cú với đời, ông tự trào để chửi đời hơn là bộc bạch tâm sự. PGS Vũ Thanh nhận xét: “Trong thơ Nguyễn Khuyến cái hài thường bị cái bi lấn át”

Nguyễn Du lo đời không tri kỉ ( Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như – Độc Tiểu Thanh kí); Nguyễn Công Trứ phát phẫn nguyện: “ Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo – Cây thông”. Nhưng cả hai ông đều còn tin chắc vào giá trị bản thân, Nguyễn Khuyến trái lại cảm thấy mờ mịt về mình:

Trăm chén tặng hình ảnh
Nghìn năm ta là ai
( Đề ảnh)

Một giấc hoàng lương thôi cũng mộng
Nghìn năm bay hạc, tớ là ai?
( Bài muộn , 2)


Tiên trách kỉ, hậu trách nhân. Phải chăng từ chính vì biết cười mình mà Nguyễn Khuyến mới đủ dũng khí , tài năng đem lại cho văn học Việt Nam những bài thơ trào phúng đặc sắc, thâm trầm , mang sức mạnh của một thế bút ( chữ dùng của GS Nguyễn Đình Chú khi bàn về thế bút Đặng Thai Mai) “không tiền khoáng hậu” nhắm thẳng vào các hiện tượng trái khoáy, chướng tai gai mắt trong xã hội đương thời ( Tiến sĩ giấy , Ông nghè tháng tám, Hỏi thăm quan tuần mất cướp, tặng Đốc học Hà Nam, Mừng ông nghè mới đỗ; Ông phỗng đá, Lời vợ phường chèo,…). Trào phúng cũng là một phương diện của trữ tình trước một đối tượng phản diện.

Tóm lại, ở Thu vịnh và Thu điếu Nguyễn Khuyến dường như chỉ tâm sự với riêng mình như một kiểu “một mình mình biết , một mình mình hay”. Còn trong Thu ẩm ông đem mình ra để chế giễu nhưng cũng có thể là thông qua mình để chế giễu tha nhân.

Hai bức chân dung tự họa ấy có sự bổ sung cho nhau, hòa quyện vào nhau tạo nên sức mạnh nghệ thuật để có thể vượt qua “sự chuyên chế của những khoảng cách”- khoảng cách thời gian và khoảng cách không gian- như nghệ nhân xưa xoắn kết những sợi tơ mành thành sợi dây đàn chịu được sức căng để trở thành dây vũ , dây văn ngân lên những âm thanh huyền diệu đến mức không chịu khuôn mình trong một biên giới, thời đại nào.

Hai bức chân dung tự họa ấy là sự biểu hiện tấn bi kịch giằng xé trong lòng Nguyễn Khuyến, như một sự phân thân : Một bên là một nhà nho cao khiết luôn tự vấn , tự phản tỉnh một cách sâu sắc , nghiêm túc; biết nhận chân sự được mất hơn thua một cách cao minh; một bên là một ẩn sĩ bất lực trong hành động “phấn nghĩa phò nguy” nhưng tấm lòng gắn bó sâu nặng với cuộc đời được thể hiện qua chất trào lộng thâm thuý mà như rướm máu con tim. Trào lộng do vậy cũng là một phương diện của trữ tình. Gốc trữ tình càng sâu thì trào lộng càng thâm thúy là như vậy!
***

III- Mỗi kiệt tác nghệ thuật là một thách thức không giới hạn đối với những nỗ lực cắt nghĩa, thưởng thức, tiếp nhận. Vì vậy thật khó nói cho cùng chỗ tuyệt diệu của chùm thơ Thu là ở đâu? Phải chăng chính là ở điểm giao thoa của nhiều đặc trưng khác biệt cùng lúc có mặt trong cả ba bài thơ, nó tạo nên một ranh giới mập mờ, kích thích không cùng trí tưởng tượng của người đọc.

Ở đây, vừa còn dấu vết của tính tượng trưng ước lệ , mỗi chi tiết nghệ thuật hiện ra vừa mang trong nó một biểu tượng khái quát nét vẽ rất tỉ mỉ, chuẩn xác phối hợp tinh tế giữa đường nét , sắc màu, tạo nên những quan hệ so sánh giữa gần và xa, cao và rộng, động và tĩnh, giữa cái mênh mông của tạo vật và sự cô tịch của lòng người; lại vừa là sự hình tượng hóa tâm trạng, cảm giác mà mỗi từ ngữ được dùng như là tiếng vọng tự trong lòng, là ngân vang sâu thẳm của cảm thức thi nhân. cho hồn thu xứ sở, vừa là những

Qua tìm hiểu cái tôi trữ tình trong chùm thơ thu, ta có thể thấy được hình tượng này quán xuyến toàn bộ thơ ông. Trong các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nguyễn Khuyến có tư cách nhà thơ số một trong đề tài làng cảnh , dân tình nhưng ông không chỉ đơn thuần là một nhà thơ phong cảnh., ông còn là một con người nặng mối trầm tư về đất nước, luôn tự giày vò chính mình trên tư cách một công dân – trí thức và ngược lại.

Đó là nguồn gốc sâu xa của sự kết hợp và chuyển hóa các nhân tố đối lập; hài mà bi; trữ tình mà châm biếm; khách thể hóa tâm trạng đi liền với tâm trạng hóa khách thể; nói về cảnh làng quê mà kì thực là cảm nhận bề sau, bề xa, bề sâu của bức tranh xã hội ; suy tưởng về sự đời mà chính là sự phản tỉnh; bề ngoài “ca ngợi đề cao” nhưng cốt nhằm tung hê đối tượng;. Có thể nói , Nguyễn Khuyến đã vượt qua giới hạn con người đơn nhất trong thơ trung đại để hóa thân vào khách thể, làm cho thế giới nghệ thuật của ông hiện ra lung linh rực rỡ.

Chùm thơ thu là sự kết tinh tài nghệ của nhà thơ Nguyễn Khuyến, kết tinh của tấm lòng Nguyễn Khuyến trong một hoàn cảnh riêng – chung đặc biệt. Chùm thơ cũng là minh chứng cho sự tinh luyện của tiếng Việt văn chương sau hơn nửa thiên niên kỉ vận động và phát triển, là tiền đề vững chắc cho sự đổi mới thơ ca của lớp người kế cận như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Á Nam Trần Tuấn Khải ở những năm 20 thế kỉ XX, là minh chứng cho quá trình vận động từ bút pháp ước lệ của văn chương trung đại sang bút pháp văn chương cận – hiện đại Việt Nam. Tất cả những cái đặc sắc ấy có thể nói lên một cách đầy đủ vị trí của nhà thơ- một trong hai đại diện ưu tú cuối cùng cho nền thơ ca trung đại Việt Nam.Và hiểu như vậy, chúng ta càng thêm đầy đủ lí do để trân trọng chùm thơ thu đặc sắc Việt Nam này. Thật là trong cảnh có tình, trong tình có cảnh. Cội nguồn sâu xa dẫn đến mọi thành tựu nghệ thật là gì nếu không phải là từ chân tài nghệ thuật của một trái tim thiết tha với quê hương đất nước, với tiếng nói dân tộc trong từng nhịp đập; một khối óc minh triết biết nhận chân vinh nhục , phải quấy , nên chăng trong mỗi ý nghĩ , việc làm.

Nội tâm ấy, như trên đã phân tích, rất điển hình cho tâm trạng của lớp nhà nho nặng tình với quê hương , đất nước , nặng tình với vẻ đẹp thanh khiết, đạm nhã của làng quê truyền thống trong hoàn cảnh đất nước ta có nhiều đổi thay biến động do cuộc xâm lăng của thực dân gây ra mà nhân dân ta chưa có phương cách nào chống trả hiệu quả. Nửa cuối thế kỉ XIX như Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gọi là một thời kì ‘ khổ nhục nhưng vĩ đại”. Thơ văn yêu nước Việt Nam cũng sớm định hình hai bè trong dàn hợp xướng. Ở bè cao, sáng chói lên các tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị , Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Xuân Ôn,..Nguyễn Khuyến là gương mặt tiêu biểu nhất của bè trầm. ¨
…………………………………………………………………
PeHaru
Hình đại diện của thành viên
PeHaru
 
 
Bài viết: 69
Ngày tham gia: Thứ 2 23/04/12 14:09
Đến từ: TP.HCM


Quay về Văn học Việt Nam

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Alfonsoliz, anhtuan197227, bk8plxpdnw, di7quvcwjv, DoZg2ha, dulichhoabinh, dwhowxe8, ea3vhdyegh, echconnhobe, ekajuzisuto, Hoàng Kim Oanh, hunbathienha, kopetpdcof, lelemv, ly ly, lynkloo, moshagonik, nguyenhuong.816, nhungbigbang, npxyaczzgy, pig_funny_kute, procgwpbvg, psbchsbvdi, qefdezesf, rqxguqtdew, rvgvwkijdh, seodatviet2015, Simmo1986, svuvrmknpz, Sống Phải Vui, td2qquyrvc, tnbdhnibwq, trinh đình thi, vieclamdm24h, yuqt1aquthe67 khách